GIỚI NGUYỆN KIM CƯƠNG THỪA Do Jigdrel Yeshe Dorje (Dudjom Rinpoche II) giảng

GIỚI NGUYỆN KIM CƯƠNG THỪA

Do Jigdrel Yeshe Dorje (Dudjom Rinpoche II) giảng

Trong số các bộ mật điển thuộc Kim cương Dakini thì sự vi phạm mười bốn giới nguyện gốc rất được nhấn mạnh. Theo các mật điển, cách thông thường nhất để giữ giới là trì mười bốn giới nguyện gốc:

Xét một cái cây chẳng hạn, nhờ bộ rễ mà cành lá và hoa quả được sum suê, nhưng nếu bộ rễ bị thoái hóa thì mọi thứ đều hỏng. Cũng vậy, nếu ta có thể trì giữ được những giới nguyện thiêng liêng này, thì chúng cũng như bộ rễ sẽ làm phát sinh mọi phẩm tính của con đường và sẽ mang lại kết quả. Và nếu để chúng bị vi phạm tức là ta [bị sa ngã và] sẽ rơi vào Địa ngục Vô gián. Đó là ‘vi phạm giới nguyện gốc’. Và đây là mười bốn:

(1) Thứ nhất, xúc phạm đạo sư:
Các vị thầy đã ban quán đỉnh, hoặc dạy mật điển cho ta, hoặc ban các hướng dẫn cho ta thực hành đều là các đạo sư. Vậy nếu thực tâm chê bai, phỉ báng hoặc thể hiện lời nói, hành vi chống đối các ngài, hoặc tạo ra phiền toái xung quanh các ngài, hoặc có các hành động làm nhiễu loạn và gây khó chịu cho các ngài, đó là vi phạm [sa ngã] giới nguyện gốc thứ nhất.

(2) Thứ hai, làm trái với giáo lý của Như Lai (Phật):
Cố ý coi thường ý nghĩa của bất kỳ giáo lý thiêng liêng nào do Đức Phật dạy, như ba bộ kinh điển hay bốn bộ mật điển, hoặc dạy giáo lý cho những người coi thường chúng, đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ hai.

(3) Thứ ba, sân hận với các kim cương hữu:
Nói chung, tất cả chúng sinh, đặc biệt những ai đã bắt đầu học giáo lý Phật Đà, hơn nữa những ai đã bước vào con đường mật thừa, và đặc biệt hơn cả là những ai cùng nhận quán đỉnh và những hướng dẫn khẩu truyền từ cùng một đạo sư, đều là thân hữu [của ta].

Nếu từ đáy lòng phát sinh sân hận hay mang sự thù hằn đối với họ, rồi từ đó có những lời thô bạo làm họ trở nên bất hạnh, đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ ba.

(4) Thứ tư, rời bỏ tâm từ:
Thực tâm mong muốn chúng sinh [nào đó] không được hạnh phúc, hoặc mong cầu họ gặp bất hạnh, đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ tư.

(5) Thứ năm, từ bỏ bồ đề tâm nguyện và bồ đề tâm hạnh nói chung:
Tuy có ngoại lệ xét theo hoàn cảnh, song nếu đánh mất bản chất cốt tủy [của bồ đề tâm] thì đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ năm.

(6) Thứ sáu, phỉ báng các truyền thống tâm linh khác:
Với thái độ thù nghịch, phỉ báng hoặc coi thường những truyền thống tâm linh khác như các truyền thống phi Phật giáo [chỉ có mục tiêu] nhằm thoát khỏi các cõi thấp, hoặc các truyền thống Phật giáo tiểu thừa là thanh văn, duyên giác, hoặc đại thừa nhưng là kinh thừa, đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ sáu.

(7) Thứ bảy, tiết lộ bí mật:
Nếu tiết lộ các bí mật của giáo lý thâm sâu cho những ai không là bình chứa thích hợp của giáo lý mật thừa, hoặc cho những ai thấy ghê sợ với giáo lý thậm thâm như hàng tiểu thừa thanh văn, duyên giác, hoặc cho những ai tuy có niềm tin song dòng tâm thức còn chưa chín muồi để nhận các quán đỉnh, thì đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ bảy.

(8) Thứ tám, khinh thường các uẩn:
Trong hệ thống chân ngôn thừa [mật thừa] bản chất của năm uẩn được hiểu là các vị Phật thuộc năm bộ Phật. Như vậy nếu coi các uẩn chỉ như thân vật chất, nơi tích chứa mọi loại nghiệp, quả và sự trì trệ tâm thần, và do đó coi thường thân thể và hành hạ nó các kiểu thì đó là sự vi phạm giới nguyện gốc thứ tám.

(9) Thứ chín, nghi ngờ giáo Pháp [về bản tâm]¹:
Nghi ngờ hoặc không tin tưởng vào một hay tất cả giáo lý về căn, đạo, quả. Các giáo lý này là ngôn ngữ [sự biểu lộ] của giác tính bản nguyên và dẫn đến đại lạc vốn có sẵn trong bản tâm, đó là sự vi phạm giới nguyện gốc thứ chín.

(10) Thứ mười, không giải thoát các đối tượng [gây hại]²:
Đó là các kẻ thù sẽ gây hại cho Tam Bảo,… Nếu ta có năng lực giải thoát bất kỳ kẻ xấu ác nào như thế, đặc biệt các kẻ làm hại đạo sư của ta hoặc chư tổ nắm giữ giáo lý, mà lại không thực hiện, hoặc lại còn thân cận, cộng tác với họ, thì đó là sự vi phạm giới nguyện gốc thứ mười.

(11) Thứ mười một, coi Pháp là có các đặc tính hữu hạn³:
Bám chắc vào nghĩa rốt ráo của trạng thái tính không, mà nó [tính không] thì không thể đặt tên hay thể hiện bằng biểu tượng và không bị ràng buộc bởi mọi thái cực cụ thể, như các thái cực thực có hay thực không, hoặc thổi phồng hay phủ nhận, thông qua các phân tích lý trí và ngụy biện, đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ mười một.

(12) Thứ mười hai, gây mất niềm tin của người khác:
Khi các chúng sinh có ba loại niềm tin và là các bình chứa Pháp thích hợp, mà lại không dạy cho họ, hoặc nói xấu về họ, hoặc đánh lừa họ, v.v…, làm cho họ thối thất và mất niềm tin, thì đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ mười hai.

(13) Thứ mười ba, sử dụng các chất liệu thệ nguyện không thích hợp⁴:
Khi thực hành các hoạt động của hành giả mật thừa, vào lúc lễ hội của các nam nữ hành giả (lễ cúng tsog),… cùng với việc sử dụng các phương tiện bổ trợ như chuông, chày, quần áo trang điểm cho ca múa,… hoặc các chất liệu diệu dục như năm loại thịt, năm loại cam lồ,… cũng như các hoạt động thuận cảnh như hát, nhảy múa, v.v… mà lại nghĩ rằng như thế là trái với giới luật biệt giải thoát cho nên coi là bất tịnh và cảm thấy có lỗi, thấy không hài lòng, thì đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ mười ba.

(14) Thứ mười bốn, khinh thường nữ thần trí tuệ:
Nói chung chê trách phụ nữ là loại lừa lọc, lôi kéo,… và đặc biệt là đối với nữ thần trí tuệ [người nữ] mà mình đang nương tựa, coi thường một cách công khai, hay nói móc máy và thấy hài lòng khi người đó hiểu được [thâm ý xấu độc đó], thì đó là vi phạm giới nguyện gốc thứ mười bốn.

Ngoài ra, còn tám vi phạm nhánh nghiêm trọng nữa. Những sa ngã này không phá hủy giới nguyện hoàn toàn như các sa ngã gốc; tuy nhiên chúng là những lỗi lầm nghiêm trọng, trở thành các chướng ngại cho sự thành tựu nhanh chóng trên con đường tu tập. Vì vậy chúng được gọi là “các vi phạm nghiêm trọng”.

Tám vi phạm này gồm:

(1) Thứ nhất, chỉ dựa vào một nữ thần giác tính⁵:
Mà người đó chưa nhận được quán đỉnh, không trì giữ các giới thệ thiêng liêng hoặc dòng tâm thức còn chưa chín muồi.

(2) Thứ hai, dựa vào một nữ thần giác tính:
Mà người đó không đủ phẩm tính theo nghĩa là không được dạy cách dùng năng lực nội khí bản thân để chiết xuất cam lồ từ nữ thần giác tính [người nữ] bình thường theo các thực hành mật thừa⁶.

(3) Thứ ba, giảng dạy trực tiếp ý nghĩa thâm sâu cho một hội chúng:
Bao gồm cả các học trò không là bình chứa thích hợp đối với các hướng dẫn thực hành như vậy.

**(4) Thứ tư, vào những lúc như lễ hội,… dù không nuôi dưỡng ý xấu trong lòng, nhưng tranh đấu hay ẩu đả với đạo hữu kim cương, hoặc nói lời gièm pha, chê bai họ,…

(5) Thứ năm, khi đệ tử chí tín và nhiệt thành muốn học hỏi về ngữ và nghĩa của Pháp mà lại không dạy cho họ một cách đúng đắn hoặc dạy chệch sang thứ gì đó khác.

(6) Thứ sáu, ở cả tuần trong nhà của một thanh văn mà người đó lại phê phán hành vi của mật thừa, hoặc ở với những người theo triết lý như thế.

(7) Thứ bảy, một hành giả du già tự mình còn chưa ngộ được đệ nhất nghĩa đế mà lại tuyên bố gian lận rằng mình là đạo sư kim cương trì của mật thừa.

(8) Thứ tám, dạy ý nghĩa thâm sâu của giáo lý mật thừa cho người không có niềm tin vào mật giáo – người không phải là bình chứa thích hợp.

Dịch Anh-Việt: Dorje Rinchen (Nguyễn Văn Hiển)

Người dịch xin sám hối mọi lỗi lầm không cố ý trong bản dịch,
và chân thành tiếp thu những chỉ bảo, góp ý từ các cao nhân và đạo hữu.

Nguyện giáo pháp ngày càng hưng thịnh!

Source:
H.H. Dudjom Rinpoche Jigdrel Yeshe Dorje — The Fourteen Root Downfalls and Eight Heavy Downfalls of the Vajrayana

Select your currency